








Giá cao su Nhật Bản tiếp tục tăng theo đà đi lên của dầu thô, trong bối cảnh giới đầu tư vẫn theo dõi sát diễn biến căng thẳng giữa Mỹ và Iran.
Kết thúc phiên giao dịch 26/5, tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 6 giảm 0,8% (140 nhân dân tệ) về mức 17.295 nhân dân tệ/tấn. Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 6 tăng 0,8% (3 yên) lên mức 392,6 yên/kg. Ở Thái Lan, giá cao su nội địa giao tháng 6 đi ngang mức 84,7 baht/kg.
Diễn biến giá cao su kỳ hạn tại Thái Lan và Nhật Bản. Nguồn: Lan Hương tổng hợp
Hợp đồng cao su kỳ hạn trên thị trường Nhật Bản nối dài đà tăng trong phiên giao dịch hôm qua, được hỗ trợ bởi giá dầu thô tăng mạnh sau khi quân đội Mỹ tiến hành các cuộc không kích tại miền Nam Iran mà Washington mô tả là hành động phòng vệ, theo Reuters.
Tuy nhiên, giới giao dịch vẫn duy trì tâm lý thận trọng khi kỳ vọng về một thỏa thuận hòa bình nhằm chấm dứt xung đột tại Iran dần suy yếu.
Trên Sàn giao dịch Osaka (OSE), hợp đồng cao su giao tháng 10 tăng 0,1% lên 409 yen/kg.
Trong khi đó, hợp đồng cao su giao tháng 9 trên Sàn giao dịch kỳ hạn Thượng Hải (SHFE) giảm 0,46%, xuống còn 17.330 nhân dân tệ/tấn. Hợp đồng cao su butadiene giao tháng 6, được giao dịch nhiều nhất trên SHFE, giảm 1,8% xuống 14.460 nhân dân tệ/tấn.
Trên thị trường năng lượng, giá dầu Brent tăng hơn 2% trong phiên thứ Ba, qua đó hỗ trợ giá cao su tự nhiên.
“Mặt bằng giá hiện vẫn dao động trong biên độ hẹp khi thị trường chờ thêm diễn biến liên quan tới căng thẳng Mỹ - Iran. Hiện chưa có yếu tố thực sự mang tính bước ngoặt và diễn biến giá chủ yếu bị chi phối bởi tâm lý đầu cơ cùng các thông tin thời sự”, một nhà giao dịch tại châu Á nhận định.
Giá cao su tự nhiên thường biến động cùng chiều với dầu thô do cạnh tranh thị phần với cao su tổng hợp, loại nguyên liệu được sản xuất từ dầu mỏ.
Theo giới phân tích, nếu xung đột tại Iran sớm kết thúc, áp lực lạm phát toàn cầu có thể hạ nhiệt, đồng thời tạo điều kiện cho nhu cầu lốp xe tại Trung Đông phục hồi. Đây hiện là một trong những khu vực nhập khẩu lớn đối với lốp ô tô sản xuất tại Trung Quốc, mặt hàng sử dụng cao su làm nguyên liệu chính.
Trên Sàn SICOM Singapore, hợp đồng cao su giao tháng 6 gần nhất được giao dịch ở mức 220,8 US cent/kg, giảm 1% so với phiên trước.
Trong nước, tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua tại Nhà máy ở mức 505 đồng/độ TSC/kg và giá thu mua tại đội sản xuất 495 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp (DRC 60%) 18.000 đồng/kg.
Tương tự, các doanh nghiệp khác đều bình ổn giá. Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2-loại 1).
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh
Giá sầu riêng hôm nay(1/1) tiếp tục trầm lắng tại các vùng thu mua trọng điểm. Tình trạng hạn hán và khan hiếm nguồn nước tại Nam Trung Bộ – Tây Nguyên đang tạo sức ép lớn, buộc ngành nông nghiệp phải điều chỉnh tư duy và cách thức quản lý, khai thác nước theo hướng tiết kiệm, bền vững và phù hợp với điều kiện khí hậu.
Theo ghi nhận trong ngày 1/1 từ chogia.vn, thị trường sầu riêng nội địa vẫn chưa có tín hiệu khởi sắc khi hoạt động mua bán diễn ra chậm. Sức mua yếu khiến giá thu mua tại các vùng trồng trọng điểm hầu như đi ngang, chưa xuất hiện biến động đáng chú ý so với các phiên trước đó.
Tại Tây Nam Bộ, giá sầu riêng RI6 loại đạt chuẩn hiện được thương lái giao dịch chủ yếu trong khoảng 60.000 – 65.000 đồng/kg, trong khi sầu riêng hàng xô phổ biến ở mức 25.000 – 28.000 đồng/kg. Đối với sầu riêng Thái, mặt bằng giá nhìn chung ổn định; loại đẹp đang được thu mua quanh ngưỡng 85.000 – 90.000 đồng/kg, còn hàng xô dao động từ 45.000 – 50.000 đồng/kg.
Ở khu vực Đông Nam Bộ, thị trường tiếp tục duy trì trạng thái lặng sóng. Sầu riêng RI6 loại đẹp hiện giữ mức 55.000 – 60.000 đồng/kg, hàng xô được thu mua trong khoảng 25.000 – 30.000 đồng/kg. Giá sầu riêng Thái không ghi nhận điều chỉnh mới, với loại đạt chuẩn phổ biến từ 75.000 – 85.000 đồng/kg, còn hàng xô quanh mức 40.000 – 50.000 đồng/kg.
Tại Tây Nguyên, giá sầu riêng nhìn chung ổn định so với những ngày trước. Sầu riêng RI6 loại đẹp đang được giao dịch ở mức 52.000 – 54.000 đồng/kg, trong khi hàng xô dao động từ 25.000 – 30.000 đồng/kg. Với sầu riêng Thái, loại đẹp hiện được thu mua quanh mức 72.000 – 74.000 đồng/kg, còn hàng xô phổ biến trong khoảng 32.000 – 35.000 đồng/kg.
|
*(Đơn vị tính: đồng/kg) |
|||
|
Tên loại Sầu Riêng |
Ngày 1/1/2026 |
Ngày 31/12/2025 |
Thay đổi |
|
KHU VỰC MIỀN TÂY NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
60.000 – 65.000 |
60.000 - 65.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 28.000 |
25.000 - 28.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
85.000 – 90.000 |
85.000 - 90.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
45.000 – 50.000 |
45.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
55.000 – 60.000 |
55.000 - 60.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
75.000 – 85.000 |
75.000 - 85.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
40.000 – 50.000 |
40.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC TÂY NGUYÊN |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
52.000 – 54.000 |
52.000 – 54.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
72.000 – 74.000 |
72.000 – 74.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
32.000 – 35.000 |
32.000 – 35.000 |
- |
Số liệu: Chogia.vn
Tổng hợp: Hà My
Theo báo Pháp luật TP HCM, hạn hán, thiếu nước tại Nam Trung Bộ – Tây Nguyên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy, phương thức quản lý và sử dụng nước trong nông nghiệp theo hướng hiệu quả, bền vững và thích ứng.
Sáng 29-12, Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi (Bộ NN&MT) phối hợp với Báo NN&MT, Sở NN&MT tỉnh Đắk Lắk tổ chức diễn đàn về nghiên cứu, ứng dụng công nghệ chiến lược trong phát triển tưới tiên tiến, tiết kiệm nước cho cây trồng cạn.
Diễn đàn tập trung tìm lời giải cho bài toán sử dụng nước hiệu quả trong nông nghiệp thông minh, ứng phó biến đổi khí hậu, qua đó góp phần đảm bảo an ninh nguồn nước cho khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên.
Phát biểu tại diễn đàn, ông Vũ Minh Việt, Phó Tổng biên tập Báo NN&MT, cho biết Nam Trung bộ và Tây Nguyên giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển nông nghiệp hàng hóa, nhất là đối với các cây trồng cạn chủ lực như cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, cây ăn quả và cây công nghiệp dài ngày.
Giá cao su Trung Quốc bật tăng mạnh mẽ sau kỳ nghỉ Lễ kéo dài, thị trường giao dịch trở lại với tâm lý lạc quan hơn.
Kết thúc phiên giao dịch 6/5, tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 6 tăng 1,7% (310 nhân dân tệ) lên mức 17.740 nhân dân tệ/tấn, còn thị trường Nhật Bản vẫn trong kỳ nghỉ lễ.
Diễn biến giá cao su kỳ hạn tại Trung Quốc. Nguồn: Barchart
Trong khi đó, thị trường cao su Malaysia đóng cửa giảm nhẹ do chịu áp lực từ những bất ổn địa chính trị kéo dài liên quan đến xung đột tại Tây Á, bất chấp xu hướng tăng của giá hợp đồng tương lai cao su trong khu vực, theo Bernama.
Một nhà giao dịch cho biết tâm lý thị trường tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự suy yếu kéo dài của ngành ô tô Trung Quốc, sau các báo cáo về doanh số xe điện sụt giảm trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng.
“Tuy nhiên, mức giảm được hạn chế nhờ các chỉ số kinh tế vĩ mô vững vàng tại các nền kinh tế lớn, khi lĩnh vực dịch vụ của Trung Quốc tăng trưởng nhanh hơn trong tháng 4.”
“Đà giảm cũng được kìm hãm thêm bởi sự cải thiện trong tâm lý thị trường, được hỗ trợ bởi sự lạc quan gia tăng về khả năng đạt được một thỏa thuận hòa bình giữa Mỹ và Iran,” bà nói với Bernama.
Kết phiên, giá cao su tiêu chuẩn Malaysia (SMR) 20 giảm 1,5 sen xuống còn 870,50 sen/kg, trong khi mủ cao su dạng khối giảm 1 sen xuống còn 754 sen/kg.
Trong nước, các doanh nghiệp bình ổn giá cao su. Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2-loại 1).
Tương tự, các doanh nghiệp khác đều bình ổn giá. Tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh
