








Giá cao su tại Nhật Bản kỳ hạn xa bật tăng khi giá cao su butadiene tăng mạnh gần đây, khiến cao su tự nhiên có xu hướng dao động ở mức cao trong ngắn hạn.
Kết thúc phiên giao dịch 24/3, tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 tăng 0,09% (1 baht/kg. Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 đi ngang mức 350 yen/kg. Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 4 tăng 0,09% (15 nhân dân tệ) lên mức 16,210 nhân dân tệ/tấn.
Diễn biến giá cao su kỳ hạn tại Thái Lan và Nhật Bản. Nguồn: Lan Hương tổng hợp
Trong khi đó, giá cao su kỳ hạn xa tại Nhật Bản bật tăng khi giá cao su butadiene tăng mạnh gần đây, khiến cao su tự nhiên có xu hướng dao động ở mức cao trong ngắn hạn, theo Reuters.
Trên Sàn Giao dịch Osaka (OSE), hợp đồng cao su giao tháng 8/2026 tăng 3,8 yên, tương đương 1,06% lên 360,7 yên (2,27 USD)/kg. Tại Sàn Giao dịch Tương lai Thượng Hải (SHFE), hợp đồng cao su giao tháng 5 tăng 60 nhân dân tệ, tương đương 0,37%, lên 16.225 nhân dân tệ (2.355,14 USD)/tấn.
Ngược lại, hợp đồng cao su butadiene tháng 5 trên SHFE giảm nhẹ 10 nhân dân tệ, tương đương 0,06% xuống còn 16.800 nhân dân tệ (2.438,60 USD)/tấn. Giá cao su butadiene đã đạt đỉnh lịch sử vào hôm 23/3 và tiếp tục tăng vào hôm 24 trước khi hạ nhiệt nhẹ.
Báo cáo từ Tianfeng Futures cho biết, sự tăng giá của hợp đồng cao su tổng hợp xuất phát từ sự kết hợp của các rủi ro địa chính trị, chi phí đầu vào cao và sự thu hẹp nguồn cung. Giá dầu thô liên tục ở mức cao đã tạo kỳ vọng tăng chi phí trên toàn chuỗi ngành năng lượng và hóa chất, khiến cao su tổng hợp có xu hướng dao động ở mức cao trong ngắn hạn.
Nhu cầu cao từ xuất khẩu lốp xe đã hỗ trợ cho thị trường, nhưng chi phí cao su butadiene tăng đang gây áp lực lớn cho các nhà sản xuất lốp, khiến họ tìm kiếm lựa chọn thay thế. Giá cao su butadiene tăng cao cũng đã hỗ trợ giá cao su tự nhiên nhờ hiệu ứng thay thế.
Thị trường dầu cũng có biến động khi giá dầu tăng do lo ngại về nguồn cung, sau khi Iran bác bỏ việc đàm phán với Mỹ nhằm chấm dứt cuộc chiến ở vùng Vịnh, trái ngược với phát biểu của Tổng thống Donald Trump rằng thỏa thuận có thể sớm đạt được.
Dữ liệu công bố ngày thứ Ba cho thấy tỷ lệ lạm phát cơ bản của Nhật Bản trong tháng 2 là 1,6%, thấp hơn mục tiêu 2% của Ngân hàng Nhật Bản lần đầu tiên trong gần 4 năm, làm giảm khả năng tăng lãi suất trong tương lai gần.
Trên Sàn giao dịch Singapore (SICOM), hợp đồng cao su kỳ hạn tháng 4 giao dịch lần cuối ở mức 360,7 cent Mỹ/kg, tăng 1,2%.
Trong nước, các doanh nghiệp bình ổn giá cao su. Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2-loại 1).
Tương tự, các doanh nghiệp khác đều bình ổn giá. Tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh
Giá sầu riêng hôm nay(23/3) tiếp tục ổn định tại các vùng thu mua trọng điểm. Không phải những bãi biển quen thuộc, một loại trái cây gai góc với hương thơm đặc trưng lại đang trở thành “nam châm” thu hút hàng triệu du khách đến Malaysia. Nhờ sức lan tỏa mạnh mẽ từ mạng xã hội, sầu riêng đang tạo hiệu ứng quảng bá mà nhiều năm làm du lịch truyền thống chưa đạt được.
Theo cập nhật ngày 23/3 từ chogia.vn, thị trường sầu riêng trong nước vẫn chưa có dấu hiệu khởi sắc khi hoạt động thu mua tiếp tục ở mức thấp. Trong bối cảnh đó, giá tại các vùng trồng chủ lực nhìn chung vẫn duy trì ổn định.
Tại khu vực Tây Nam Bộ, sầu riêng RI6 loại 1 đang được thu mua quanh mức 55.000 – 60.000 đồng/kg, còn hàng xô phổ biến từ 25.000 – 28.000 đồng/kg. Đối với sầu riêng Thái, giá hàng tuyển tiếp tục giữ ở mức 85.000 – 90.000 đồng/kg, trong khi hàng xô dao động từ 45.000 – 50.000 đồng/kg.
Ở khu vực Đông Nam Bộ, mặt bằng giá không có nhiều thay đổi so với những ngày trước. Cụ thể, RI6 loại đẹp duy trì trong khoảng 55.000 – 60.000 đồng/kg, còn hàng xô phổ biến từ 25.000 – 30.000 đồng/kg. Trong khi đó, sầu riêng Thái loại tuyển được giao dịch ở mức 75.000 – 85.000 đồng/kg, còn hàng xô dao động từ 40.000 – 50.000 đồng/kg.
Tại Tây Nguyên, thị trường sầu riêng vẫn giữ xu hướng đi ngang. Sầu riêng RI6 đạt chuẩn hiện có giá khoảng 52.000 – 54.000 đồng/kg, còn hàng xô dao động từ 25.000 – 30.000 đồng/kg. Với sầu riêng Thái, giá hàng tuyển duy trì ở mức 72.000 – 74.000 đồng/kg, trong khi hàng xô phổ biến từ 32.000 – 35.000 đồng/kg.
|
*(Đơn vị tính: đồng/kg) |
|||
|
Tên loại Sầu Riêng |
Ngày 23/3/2026 |
Ngày 21/3/2026 |
Thay đổi |
|
KHU VỰC MIỀN TÂY NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
55.000 – 60.000 |
60.000 - 65.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 28.000 |
25.000 - 28.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
85.000 – 90.000 |
85.000 - 90.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
45.000 – 50.000 |
45.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
55.000 – 60.000 |
55.000 - 60.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
75.000 – 85.000 |
75.000 - 85.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
40.000 – 50.000 |
40.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC TÂY NGUYÊN |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
52.000 – 54.000 |
52.000 – 54.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
72.000 – 74.000 |
72.000 – 74.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
32.000 – 35.000 |
32.000 – 35.000 |
- |
Số liệu: Chogia.vn
Tổng hợp: Hà My
Theo báo Đà Nẵng, năm 2025, Malaysia đón 42,2 triệu lượt khách quốc tế, mức kỷ lục của ASEAN, và một phần không nhỏ trong làn sóng đó xuất phát từ những video sầu riêng triệu view trên mạng xã hội Douyin. Du khách Trung Quốc sẵn sàng bay hàng nghìn km chỉ để thưởng thức trái cây "vua" ngay tại vườn, với giá rẻ hơn mua ở nhà.
Con đường vào vườn Bloopy Durians ở vùng đồi núi trung tâm Malaysia không dành cho xe thường vì nó hẹp, lồi lõm, xuyên qua tán cây rậm rạp giữa cái nóng ẩm ướt. Nhưng với nhiều du khách, chính hành trình gian nan đó mới là một phần của trải nghiệm. Ông Harliandy Salim (43 tuổi, người Indonesia), đã nhiều lần đưa cả gia đình vượt quãng đường ấy. "Ở Indonesia chúng tôi cũng có sầu riêng, nhưng hương vị không giống như ở đó”, ông chia sẻ với báo Straits Times.
Theo báo cáo của BMI - đơn vị nghiên cứu thuộc Fitch Solutions - xu hướng "du lịch sầu riêng" tại Malaysia đang được khuếch đại mạnh mẽ bởi mạng xã hội, đặc biệt là Douyin, nơi các video hướng dẫn du lịch và nội dung trải nghiệm sầu riêng thu hút hàng triệu lượt xem từ người dùng Trung Quốc.
Sức hút đó có cơ sở kinh tế rõ ràng. Năm 2025, Trung Quốc nhập khẩu 7,5 tỷ USD sầu riêng, chiếm khoảng 95% tổng cầu nhập khẩu toàn cầu, theo BMI. Sầu riêng Malaysia xuất khẩu đạt mức giá 12.138 USD/tấn, gần gấp ba lần nơi khác, theo báo Malaymail. Khoảng cách giá khổng lồ này khiến cho chuyến bay đến Malaysia thành lựa chọn hợp lý: ăn sầu riêng thật, chất lượng thật, với giá rẻ hơn mua ở nhà.
Tại vườn Bloopy Durians, chủ vườn Stephen Loke đón tới 180 khách mỗi ngày cao điểm. Khách không chỉ ăn, họ học cách trồng cây, ngủ lại qua đêm, rồi ghé trung tâm thương mại. "Khi khách bay đến các vườn, họ cũng vào trung tâm mua sắm”, ông Loke kể tiếp với Straits Times.
Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh
Giá cao su kỳ hạn mở cửa phiên giao dịch đầu tuần ghi nhận diễn biến giằng co trong biên độ hẹp, một phần do lo ngại nguồn cung sẽ dồi dào hơn.
Mở cửa phiên giao dịch 23/3, tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 tăng 0,7% (0,5 baht) lên mức 75.5 baht/kg. Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 giảm 0,5% (1,9 yen) về mức 353 yen/kg. Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 4 giảm 0,1% (20 nhân dân tệ) về mức 16,085 nhân dân tệ/tấn.
Diễn biến giá cao su kỳ hạn tại Thái Lan và Nhật Bản. Nguồn: Lan Hương tổng hợp
Trong diễn biến nguồn cung, tại Campuchia, xuất khẩu cao su và các sản phẩm liên quan của quốc gia này đã tăng mạnh trong hai tháng đầu năm 2026, phản ánh nhu cầu toàn cầu ở mức cao và tâm lý thị trường tích cực đối với cao su thiên nhiên, bất chấp những bất ổn kinh tế rộng hơn, theo Khmertimeskh.
Theo số liệu thương mại mới nhất từ Tổng cục Hải quan và Thuế tiêu thụ đặc biệt (GDCE), Campuchia đã xuất khẩu cao su và các sản phẩm từ cao su trị giá 420 triệu USD trong hai tháng đầu năm 2026, tăng 35,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Những con số này cho thấy cao su tiếp tục là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của quốc gia.
Các chuyên gia trong ngành cho rằng sự gia tăng xuất khẩu này đến từ việc thị trường cao su toàn cầu đang cho thấy dấu hiệu phục hồi. Một báo cáo gần đây của Hiệp hội Các quốc gia sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC) có trụ sở tại Kuala Lumpur cho biết tâm lý thị trường đối với cao su thiên nhiên vẫn ổn định, chủ yếu được hỗ trợ bởi các tín hiệu phục hồi của ngành sản xuất lốp xe toàn cầu—một trong những lĩnh vực tiêu thụ cao su lớn nhất.
“Tuy chịu nhiều áp lực kinh tế toàn cầu, tâm lý thị trường đối với cao su thiên nhiên vẫn duy trì sự vững vàng,” hiệp hội cho biết trong báo cáo triển vọng mới nhất, đồng thời nhận định rằng diễn biến thị trường gần đây phản ánh giai đoạn củng cố sau khi giá đã tăng trong những tháng trước.
Báo cáo cũng đề cập đến yếu tố mùa vụ. Thị trường cao su thiên nhiên hiện đang bước vào mùa thay lá (wintering season), thường kéo dài từ tháng 2 đến tháng 5, khi cây cao su rụng lá và sản lượng mủ giảm tại các quốc gia sản xuất lớn. Chu kỳ mùa vụ này trong lịch sử thường khiến nguồn cung toàn cầu thắt chặt hơn, qua đó hỗ trợ giá.
Campuchia chủ yếu xuất khẩu cao su sang các trung tâm sản xuất lớn ở châu Á như Trung Quốc và Việt Nam, nơi cao su được chế biến thêm hoặc sử dụng trực tiếp trong sản xuất lốp xe và hàng hóa công nghiệp. Một phần nhỏ hơn được xuất khẩu sang Malaysia và Singapore.
Cao su vẫn là cây trồng chiến lược trong nền kinh tế nông nghiệp của Campuchia. Theo dữ liệu từ chính phủ và ngành, quốc gia này có hàng trăm nghìn hecta trồng cao su, với sự tham gia của cả các doanh nghiệp lớn và các hộ nông dân quy mô nhỏ.
Các nhà phân tích cho rằng nhu cầu toàn cầu đối với ô tô và hàng hóa công nghiệp đang cải thiện, góp phần thúc đẩy thị trường cao su. Khi ngành lốp xe phục hồi sau giai đoạn tăng trưởng chậm, nhu cầu đối với cao su thiên nhiên—nguyên liệu thiết yếu trong sản xuất lốp—đã bắt đầu tăng trở lại.
Đồng thời, những hạn chế về nguồn cung tại các quốc gia sản xuất lớn như Thái Lan và Indonesia trong mùa thay lá có thể khiến thị trường toàn cầu trở nên khan hiếm hơn trong những tháng tới.
Trong nước, các doanh nghiệp bình ổn giá cao su. Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2-loại 1).
Tương tự, các doanh nghiệp khác đều bình ổn giá. Tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh
