








Giá cao su biến động trái chiều khi lo ngại về nhu cầu tiêu thụ do cuộc xung đột Iran gây áp lực, trong khi giá dầu và nguồn cung hạn chế giúp thị trường được hỗ trợ.
Kết thúc phiên giao dịch 17/3, tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 tăng 0,1% (0,1 baht) lên mức 74,2 baht/kg. Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 giảm 1,8% (6,8 yên) về mức 363,2 yen/kg. Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 4 tăng 0,1% (25 nhân dân tệ) lên mức 16,900 nhân dân tệ/tấn.
Diễn biến giá cao su kỳ hạn tại Thái Lan và Nhật Bản. Nguồn: Lan Hương tổng hợp
Giá cao su kỳ hạn tại Nhật Bản giảm trở lại khi giới đầu tư đánh giá tác động của xung đột Iran đối với nhu cầu tiêu thụ, dù thị trường vẫn nhận được lực đỡ từ giá dầu và nguồn cung vật chất thắt chặt, theo Reuters.
Cụ thể, hợp đồng cao su giao tháng 8/2026 trên Sàn Osaka giảm 5,2 yên, tương đương 1,37%, xuống còn 374,7 yên/kg, tương đương khoảng 2,35 USD/kg.
Trên Sàn Giao dịch Tương lai Thượng Hải (SHFE), hợp đồng cao su giao tháng 5 giảm 35 nhân dân tệ/tấn, tương đương 0,21%, xuống mức 16.970 nhân dân tệ/tấn (2.463,92 USD/tấn). Hợp đồng cao su butadien giao tháng 4, được giao dịch nhiều nhất, cũng giảm 255 nhân dân tệ/tấn, tương đương 1,62%, xuống còn 15.530 nhân dân tệ/tấn.
Theo bà Farah Miller, Giám đốc điều hành Helixtap Technologies, giá cao su hiện dao động trong biên độ hẹp khi các nhà tiêu thụ và sản xuất cân nhắc tác động của xung đột Iran tới nhu cầu, đồng thời theo dõi chi phí vận tải.
Hoạt động giao dịch trên thị trường giao ngay vẫn trầm lắng, trong khi các nhà sản xuất cao su không sẵn sàng giảm giá do nguồn cung đang hạn chế.
Tại Thái Lan, giá cao su xuất khẩu chủ chốt loại RSS3 và cao su khối lần lượt tăng lên 82,9 baht/kg và 70,42 baht/kg, nhờ yếu tố mùa vụ khi cây cao su bước vào giai đoạn rụng lá.
Trong khi đó, giá dầu tăng hơn 2% do lo ngại gián đoạn nguồn cung, khi eo biển Hormuz phần lớn bị đóng cửa và các đồng minh của Mỹ từ chối đề xuất điều tàu chiến bảo vệ tàu chở dầu.
Giá cao su tự nhiên thường biến động cùng chiều với giá dầu do cạnh tranh với cao su tổng hợp, sản phẩm được sản xuất từ dầu thô.
Ngoài ra, một số nhà máy sản xuất cao su butadien đã phải cắt giảm sản lượng hoặc tạm dừng hoạt động để bảo trì do thiếu nguyên liệu đầu vào, trong bối cảnh nhiều nhà máy lọc dầu tại châu Á giảm công suất hoặc tuyên bố bất khả kháng.
Điều này khiến nhu cầu chuyển sang sử dụng cao su tự nhiên tăng lên, qua đó hỗ trợ giá mặt hàng này, theo một thương nhân tại Singapore.
Trên Sàn SICOM Singapore, hợp đồng cao su giao tháng 4 gần nhất được giao dịch ở mức 195,1 US cent/kg, giảm 0,4%.
Trong nước, các doanh nghiệp bình ổn giá cao su. Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2-loại 1).
Tương tự, các doanh nghiệp khác đều bình ổn giá. Tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Theo Lan Hương
Giá sầu riêng hôm nay(17/3) tiếp tục ổn định tại các vùng thu mua trọng điểm. Theo Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VIII, từ đầu năm đến nay, gần 21.000 tấn sầu riêng đã được xuất khẩu qua Cửa khẩu Kim Thành (Lào Cai), tăng gấp 26 lần so với cùng kỳ năm trước, cho thấy hoạt động xuất khẩu đang khởi sắc.
Cập nhật ngày 17/3 từ chogia.vn cho thấy thị trường sầu riêng trong nước vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực khi nhu cầu thu mua tiếp tục ở mức thấp. Trong bối cảnh sức mua chưa cải thiện, giá sầu riêng tại các vùng trồng trọng điểm nhìn chung vẫn đi ngang.
Tại khu vực Tây Nam Bộ, sầu riêng RI6 loại 1 đang được thu mua trong khoảng 55.000 – 60.000 đồng/kg, còn hàng xô phổ biến từ 25.000 – 28.000 đồng/kg. Đối với sầu riêng Thái, giá hàng tuyển vẫn giữ ở mức 85.000 – 90.000 đồng/kg, trong khi hàng xô dao động quanh 45.000 – 50.000 đồng/kg.
Ở khu vực Đông Nam Bộ, mặt bằng giá tiếp tục ổn định so với những ngày trước đó. Cụ thể, RI6 loại đẹp duy trì ở mức 55.000 – 60.000 đồng/kg, còn hàng xô phổ biến trong khoảng 25.000 – 30.000 đồng/kg. Trong khi đó, sầu riêng Thái loại tuyển được giao dịch từ 75.000 – 85.000 đồng/kg, còn hàng xô dao động 40.000 – 50.000 đồng/kg.
Tại Tây Nguyên, thị trường sầu riêng vẫn chưa ghi nhận biến động mới. Sầu riêng RI6 đạt chuẩn hiện có giá khoảng 52.000 – 54.000 đồng/kg, còn hàng xô dao động từ 25.000 – 30.000 đồng/kg. Với sầu riêng Thái, giá hàng tuyển duy trì ở mức 72.000 – 74.000 đồng/kg, trong khi hàng xô phổ biến trong khoảng 32.000 – 35.000 đồng/kg.
|
*(Đơn vị tính: đồng/kg) |
|||
|
Tên loại Sầu Riêng |
Ngày 17/3/2026 |
Ngày 16/3/2026 |
Thay đổi |
|
KHU VỰC MIỀN TÂY NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
55.000 – 60.000 |
60.000 - 65.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 28.000 |
25.000 - 28.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
85.000 – 90.000 |
85.000 - 90.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
45.000 – 50.000 |
45.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
55.000 – 60.000 |
55.000 - 60.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
75.000 – 85.000 |
75.000 - 85.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
40.000 – 50.000 |
40.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC TÂY NGUYÊN |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
52.000 – 54.000 |
52.000 – 54.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
72.000 – 74.000 |
72.000 – 74.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
32.000 – 35.000 |
32.000 – 35.000 |
- |
Số liệu: Chogia.vn
Tổng hợp: Hà My
Báo Lào Cai đưa tin, hiện nay, mỗi ngày có trung bình 200 - 300 tấn sầu riêng được làm thủ tục thông quan qua cửa khẩu Kim Thành. Đây cũng là mặt hàng nông sản có sản lượng xuất khẩu lớn nhất tại khu vực cửa khẩu này.
Sự gia tăng mạnh mẽ của lượng sầu riêng xuất khẩu được cho là nhờ chính sách nhập khẩu của Trung Quốc đối với mặt hàng trái cây được nới lỏng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại biên giới.
Sầu riêng xuất khẩu thuận lợi qua Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành.
Bên cạnh yếu tố thị trường, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng chủ động thích ứng với các quy định của phía nhập khẩu.
Trước khi đưa hàng hóa ra cửa khẩu, nhiều doanh nghiệp đã chuẩn bị đầy đủ hồ sơ truy xuất nguồn gốc, kiểm dịch thực vật, đồng thời bảo đảm các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm hạn chế rủi ro và rút ngắn thời gian thông quan.
Chi cục Kiểm dịch thực vật kiểm tra thủ tục đối với lô hàng sầu riêng trước khi thông quan nhằm giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp.
So với nhiều mặt hàng nông sản truyền thống khác, sầu riêng có giá trị kinh tế cao, giá trị xuất khẩu gấp khoảng 7 - 8 lần so với một số loại trái cây thông thường. Vì vậy, việc xuất khẩu thuận lợi mặt hàng này không chỉ góp phần nâng cao giá trị nông sản Việt Nam mà còn đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất nhập khẩu qua địa bàn tỉnh Lào Cai, đồng thời tăng nguồn thu từ phí sử dụng hạ tầng cửa khẩu.
Sầu riêng xuất khẩu thuận lợi đóng góp lớn vào kim ngạch xuất nhập khẩu qua cửa khẩu Lào Cai.
Theo thống kê, năm 2025, tổng lượng sầu riêng xuất khẩu qua cửa khẩu Lào Cai đạt hơn 85.000 tấn, với giá trị khoảng 240 triệu USD. Kết quả này tiếp tục khẳng định Cửa khẩu Quốc tế đường bộ số II Kim Thành là điểm trung chuyển quan trọng đối với các mặt hàng nông sản xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.
Thời gian tới, cùng với việc nâng cao chất lượng nông sản, tăng cường kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc, hoạt động xuất khẩu sầu riêng qua cửa khẩu Lào Cai được kỳ vọng sẽ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế thương mại khu vực biên giới.
Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh
Mở cửa phiên giao dịch 16/3, tại Thái Lan, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 giảm 0,5% (0,4 baht) về mức 73,5 baht/kg. Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 4/2026 giảm 0,5% (2 yên) về mức 364 yen/kg. Tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 4 giảm 0,2% (30 nhân dân tệ) về mức 16,985 nhân dân tệ/tấn.
Diễn biến giá cao su kỳ hạn tại Thái Lan và Nhật Bản. Nguồn: Lan Hương tổng hợp
Trung Quốc áp thuế chống bán phá giá cao su butyl; doanh nghiệp lốp xe Trung Quốc mở rộng sản xuất ra nước ngoài
Trung Quốc đã áp thuế chống bán phá giá đối với cao su butyl halogen hóa (loại cao su tổng hợp) nhập khẩu từ Canada và Nhật Bản, trong bối cảnh các doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng lốp xe Trung Quốc cũng đang đẩy mạnh mở rộng sản xuất ra nước ngoài nhằm giảm rủi ro thương mại và tối ưu chuỗi cung ứng, theo tờ Japan Times.
Theo thông báo ngày thứ Sáu của Ministry of Commerce of the People's Republic of China, mức thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm cao su butyl halogen hóa từ Canada sẽ là 13,8%, trong khi các nhà xuất khẩu Nhật Bản sẽ chịu mức thuế 30,1%. Riêng Japan Butyl Co., Ltd. sẽ chịu mức thuế thấp hơn, ở mức 15%.
Loại cao su này là nguyên liệu quan trọng trong nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt được sử dụng để sản xuất lớp lót lốp xe, ống dẫn và các sản phẩm dược phẩm.
Bộ Thương mại Trung Quốc cho biết kết luận điều tra cuối cùng xác định ngành sản xuất trong nước đã chịu thiệt hại đáng kể, đồng thời tồn tại mối liên hệ nhân quả với hoạt động bán phá giá của các nhà xuất khẩu nước ngoài. Các mức thuế mới sẽ có hiệu lực từ ngày 14/3/2026 và kéo dài trong 5 năm.
Trong khi đó, một số doanh nghiệp Trung Quốc trong ngành lốp xe đang tăng tốc mở rộng sản xuất ra nước ngoài để giảm rủi ro thuế quan và củng cố chuỗi cung ứng toàn cầu.
Cụ thể, thương hiệu lốp Autogreen thuộc Best Choice International Trade Co. đã chính thức khánh thành nhà máy sản xuất đầu tiên ở nước ngoài tại Svay Rieng Special Economic Zone ở Svay Rieng, Cambodia.
Dự án có tổng vốn đầu tư giai đoạn một khoảng 280 triệu USD, được xây dựng trên khu đất 32 ha với công suất ban đầu 6 triệu lốp xe du lịch mỗi năm. Theo công ty, quá trình xây dựng nhà máy bắt đầu vào tháng 1/2025 và chỉ mất 288 ngày để sản xuất chiếc lốp đầu tiên.
Nhà máy sẽ tập trung vào các dòng lốp trung và cao cấp, bao gồm lốp hiệu suất cao kích thước lớn và lốp run-flat, hướng tới các thị trường xuất khẩu như Europe và North America.
Giai đoạn hai của dự án dự kiến đi vào hoạt động trong nửa đầu năm 2026, nâng tổng công suất lên 12 triệu lốp mỗi năm.
Cơ sở này dự kiến trở thành trung tâm sản xuất khu vực, phục vụ các thị trường tại Southeast Asia, Australia và Middle East, đồng thời hoạt động song song với các nhà máy hiện có của công ty tại Trung Quốc.
Trong nước, các doanh nghiệp bình ổn giá cao su. Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 458 - 463 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 404 - 459 đồng/DRC (loại 2-loại 1).
Tương tự, các doanh nghiệp khác đều bình ổn giá. Tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Công ty Cao su Bà Rịa cũng báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Tại Công ty Phú Riềng, chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh
