








Giá cao su kỳ hạn tại Trung Quốc và Thái Lan tiếp tục đà tăng mạnh, đặc biệt giá cao su tại Thái Lan ghi nhận vượt mốc 65 baht/kg.
Kết thúc phiên giao dịch 11/2, tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 3/2026 tăng 1,3% (210 nhân dân tệ) lên mức 16.545 nhân dân tệ/tấn. Giá cao su Thái Lan kỳ hạn tháng 3/2026 tăng 1,2% (0,8 baht) lên mức 65,1 baht/kg. Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 3/2026 của Sàn OSE đi ngang mức 338 yen/kg,
Diễn biến giá cao su kỳ hạn tại Thái Lan và Nhật Bản. Nguồn: Lan Hương tổng hợp
Các hãng lốp lớn của Hàn Quốc vượt thách thức thuế quan Mỹ nhờ đẩy mạnh thị trường châu Âu
Trong một diễn biến liên quan, các nhà sản xuất lốp xe hàng đầu Hàn Quốc đang cho thấy khả năng vượt qua những thách thức từ chính sách thuế quan của Mỹ bằng cách mở rộng doanh số các dòng lốp giá trị gia tăng tại thị trường châu Âu, theo Korea Times.
Ba doanh nghiệp lớn gồm Hankook Tire, Nexen Tire và Kumho Tire đã chịu tác động từ mức thuế 25% do Mỹ áp đặt trong gần nửa năm, bắt đầu từ tháng 4 năm ngoái.
Tuy nhiên, theo dữ liệu kết quả kinh doanh năm 2025, các hãng lốp này vẫn duy trì được đà tăng trưởng nhờ mở rộng doanh số tại châu Âu. Họ đã ứng phó hiệu quả với “cơn gió ngược” thuế quan bằng cách gia tăng bán các dòng lốp kích thước lớn (high-inch) và lốp dành cho xe điện (EV), đặc biệt cho khách hàng châu Âu.
Hankook Tire gây bất ngờ cho thị trường khi ghi nhận doanh thu kỷ lục 21,2 nghìn tỷ won (tương đương 14,6 tỷ USD) trong năm 2025, tăng 125,3% so với năm trước. Lợi nhuận hoạt động của hãng cũng tăng 4,6% lên 1,84 nghìn tỷ won trong cùng kỳ.
Là nhà sản xuất lốp lớn nhất Hàn Quốc, Hankook cho biết đã bù đắp tác động từ thuế quan Mỹ bằng cách đẩy mạnh doanh số các dòng lốp có kích thước trên 18 inch và các sản phẩm lốp EV có biên lợi nhuận cao. Các dòng lốp lớn hầu như đều sử dụng cao su thiên nhiên với tỷ lệ phối trộn khác nhau.
Xét theo thị trường, vai trò chiến lược của châu Âu đối với Hankook đang ngày càng gia tăng. Trong quý IV năm ngoái, tỷ trọng doanh số lốp xe du lịch và xe tải nhẹ (PCLT) kích thước trên 18 inch tại châu Âu chiếm 41% tổng doanh số toàn cầu của phân khúc này, tăng so với mức 38,4% ghi nhận trong quý II.
Trong nước, giá thu mua cao su nguyên liệu ổn định. Cụ thể, tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 379 – 384 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 345 - 393 đồng/DRC (loại 2-loại 1).
Trong khi đó, Công ty Phú Riềng chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Theo Doanh Nghiệp & Kinh Doanh
Giá sầu riêng hôm nay(6/2) lặng sóng tại các vùng thu mua trọng điểm, sầu riêng Việt Nam lần đầu tiên vươn lên dẫn đầu thị phần tại Trung Quốc, chiếm hơn một nửa tổng lượng nhập khẩu trong năm qua, qua đó vượt Thái Lan để trở thành nguồn cung lớn nhất tại thị trường tiêu thụ sầu riêng hàng đầu thế giới.
Theo ghi nhận trong ngày 6/2 từ chogia.vn, thị trường sầu riêng nội địa tiếp tục rơi vào trạng thái trầm lắng, chưa xuất hiện tín hiệu phục hồi rõ rệt. Giao dịch tại các vùng trồng chủ lực diễn ra cầm chừng, sản lượng mua bán không lớn, trong khi giá thu mua nhìn chung ổn định so với những ngày gần đây.
Tại khu vực Tây Nam Bộ, sầu riêng RI6 đạt chuẩn đang được thương lái thu mua phổ biến ở mức 55.000 – 60.000 đồng/kg. Đối với hàng RI6 mua xô, giá giao dịch dao động trong khoảng 25.000 – 28.000 đồng/kg. Trong khi đó, sầu riêng Thái vẫn duy trì mặt bằng giá cao, với hàng tuyển chọn được thu mua quanh mức 85.000 – 90.000 đồng/kg, còn hàng mua xô ở ngưỡng 45.000 – 50.000 đồng/kg.
Ở Đông Nam Bộ, thị trường không ghi nhận sự điều chỉnh mới về giá. Theo đó, sầu riêng RI6 loại đẹp tiếp tục được giao dịch trong khoảng 55.000 – 60.000 đồng/kg, còn hàng mua xô dao động từ 25.000 – 30.000 đồng/kg. Riêng sầu riêng Thái, giá hàng tuyển chọn hiện phổ biến từ 75.000 – 85.000 đồng/kg, trong khi hàng xô giữ quanh mức 40.000 – 50.000 đồng/kg.
Tại khu vực Tây Nguyên, giá sầu riêng nhìn chung ổn định. Sầu riêng RI6 loại đẹp hiện được thu mua ở mức 52.000 – 54.000 đồng/kg, còn hàng mua xô dao động trong khoảng 25.000 – 30.000 đồng/kg. Với sầu riêng Thái, giá hàng tuyển chọn phổ biến từ 72.000 – 74.000 đồng/kg, trong khi hàng xô duy trì ở mức 32.000 – 35.000 đồng/kg.
|
*(Đơn vị tính: đồng/kg) |
|||
|
Tên loại Sầu Riêng |
Ngày 6/2/2026 |
Ngày 5/2/2026 |
Thay đổi |
|
KHU VỰC MIỀN TÂY NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
55.000 – 60.000 |
60.000 - 65.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 28.000 |
25.000 - 28.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
85.000 – 90.000 |
85.000 - 90.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
45.000 – 50.000 |
45.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC MIỀN ĐÔNG NAM BỘ |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
55.000 – 60.000 |
55.000 - 60.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
75.000 – 85.000 |
75.000 - 85.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
40.000 – 50.000 |
40.000 – 50.000 |
- |
|
KHU VỰC TÂY NGUYÊN |
|||
|
RI6 Đẹp Lựa |
52.000 – 54.000 |
52.000 – 54.000 |
- |
|
RI6 Xô |
25.000 – 30.000 |
25.000 - 30.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Đẹp Lựa |
72.000 – 74.000 |
72.000 – 74.000 |
- |
|
Sầu Riêng Thái Mua Xô |
32.000 – 35.000 |
32.000 – 35.000 |
- |
Số liệu: Chogia.vn
Tổng hợp: Hà My
Báo Đà Nẵng đưa tin, theo số liệu từ Tổng cục Hải quan Trung Quốc, sầu riêng Việt Nam đã xác lập cột mốc mới khi chiếm hơn 50% tổng lượng sầu riêng nhập khẩu của nước này trong năm qua, tương đương khoảng 940.000 tấn. Đây là lần đầu tiên Việt Nam vượt qua Thái Lan về sản lượng xuất khẩu sầu riêng tươi sang thị trường tiêu thụ lớn nhất thế giới.
Sự bứt phá này đến từ việc các doanh nghiệp và địa phương đã siết chặt quản lý vùng trồng, cấp mã số đóng gói và tăng cường tính minh bạch trong truy xuất nguồn gốc. Trong tổng số hơn 1,8 triệu tấn sầu riêng Trung Quốc nhập khẩu từ 5 quốc gia, Việt Nam hiện đang giữ vị thế đứng đầu về khối lượng.
Hà My
Giá cao su kỳ hạn Nhật Bản đi xuống do chịu áp lực từ nhu cầu nội địa suy yếu, trong khi đà hồi phục của thị trường hàng hoá nói chung đã hỗ trợ giá cao su của Trung Quốc và Singapore hạn chế mức giảm.
Kết thúc phiên giao dịch 3/2, tại Trung Quốc, giá cao su kỳ hạn tháng 3/2026 giảm 5 nhân dân tệ về mức 16.175 nhân dân tệ/tấn. Giá cao su Thái Lan kỳ hạn tháng 2/2026 đi ngang mức 63,3 baht/kg. Tại Nhật Bản, giá cao su kỳ hạn tháng 3/2026 giảm 0,2% (0,5 yen) về mức 329,8 yen/kg.
Diễn biến giá cao su kỳ hạn tại Thái Lan và Nhật Bản. Nguồn: Lan Hương tổng hợp
Giá cao su kỳ hạn Nhật Bản đi xuống do chịu áp lực từ nhu cầu nội địa suy yếu, trong khi đà hồi phục của thị trường hàng hoá nói chung đã hỗ trợ giá cao su của Trung Quốc và Singapore hạn chế mức giảm, theo Reuters.
Tại Sở giao dịch Osaka (OSE), hợp đồng cao su giao tháng 7/2026 giảm 4,2 yên, tương đương 1,22% xuống còn 339,1 yên/kg. Ngược lại, tại Sở giao dịch kỳ hạn Thượng Hải (SHFE), hợp đồng cao su giao tháng 5 tăng 40 nhân dân tệ, tương đương 0,25% lên 16.180 nhân dân tệ/tấn, trong khi hợp đồng cao su butadien hoạt động mạnh nhất giao tháng 3 tăng 125 nhân dân tệ, tương đương 0,96% lên 13.185 nhân dân tệ/tấn.
Theo dữ liệu từ Tập đoàn Sở giao dịch Nhật Bản, tồn kho cao su tấm hun khói (RSS) tại OSE trong tháng 12/2025 giảm xuống khoảng 2.000 tấn, mức thấp nhất trong vòng 6 năm, làm dấy lên lo ngại về nhu cầu tiêu thụ tại Nhật Bản, một trong những quốc gia nhập khẩu cao su lớn nhất thế giới.
Trên thị trường khu vực, giá cao su tại Singapore và Thượng Hải đã phục hồi cùng với các mặt hàng khác, khi tâm lý thị trường cải thiện sau đợt bán tháo hàng hóa diện rộng trong phiên đầu tuần, theo chia sẻ của một thương nhân với Reuters.
Giá dầu thô đi ngang trong phiên thứ Ba, khi giới đầu tư cân nhắc khả năng hạ nhiệt căng thẳng giữa Mỹ và Iran, trong bối cảnh đồng USD mạnh hơn đã hạn chế đà tăng của giá dầu. Cao su tự nhiên thường biến động cùng chiều với giá dầu, do cạnh tranh thị phần với cao su tổng hợp – sản phẩm được sản xuất từ dầu mỏ.
Về nguồn cung, những hạn chế trong sản xuất cao su do hoạt động khai thác mủ tạm ngừng tại khu vực đông bắc Thái Lan và Việt Nam được dự báo sẽ đẩy giá nguyên liệu đầu vào tăng, theo báo cáo của công ty môi giới Trung Quốc Southwest Futures. Theo chu kỳ hàng năm, sản lượng cao su thường ở mức thấp từ tháng 2 đến tháng 5, trước khi bước vào mùa thu hoạch cao điểm kéo dài đến tháng 9.
Trong khi đó, trên Sở giao dịch Singapore (SICOM), hợp đồng cao su giao tháng gần nhất cho tháng 3 kết phiên ở mức 187,8 US cent/kg, tăng 1,5%.
Trong nước, giá thu mua cao su nguyên liệu ổn định. Cụ thể, tại công ty Bình Long, giá cao su thu mua bình ổn tại Nhà máy ở mức 432 đồng/độ TSC/kg; giá thu mua tại đội sản xuất 422 đồng/TSC/kg; giá mủ tạp bình ổn (DRC 60%) 14.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua mủ nước ở mức 420 đồng/độ TSC/kg (áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30); mủ đông DRC (35 - 44%) ở mức 14.600 đồng/kg, mủ nguyên liệu 18.100 đồng/kg.
Tại Công ty MangYang, giá thu mua mủ nước ghi nhận khoảng 379 – 384 đồng/TSC (loại 2-loại 1), mủ đông tạp khoảng 345 - 393 đồng/DRC (loại 2-loại 1).
Trong khi đó, Công ty Phú Riềng chào giá thu mua mủ tạp bình ổn ở mức 390 đồng/DRC, giá thu mua mủ nước 420 đồng/TSC.
Lan Hương
