








Ông Luckchai Kittipol, chủ tịch danh dự Hiệp hội Cao su Thái Lan, cho biết ông lạc quan hơn về triển vọng thị trường cao su kể từ khi giá cao su tấm hun khói loại 3 đạt 60 baht/kg vào ngày 1/9/2020, là lần đầu tiên đạt mức này sau hơn 1 thập kỷ. So sánh, mức này cao hơn so với giá 58,25 baht/kg vào ngày 31/8/2020 và càng cao hơn so với 40,99 baht đầu năm 2020.

Triển vọng giá cao su thiên nhiên đang sáng dần lên, do dự báo nhu cầu găng tay cao su sẽ còn tăng tiếp trong khi nguồn cung cao su trên thế giới hạn hẹp.
Theo ông Luckchai, nhu cầu găng tay y tế tiếp tục gia tăng do đại dịch Covid-19 thúc đầy nhu cầu tiêu thụ cao su trên toàn cầu tăng. Bên cạnh đó, các nhà máy tại Trung Quốc khôi phục sản xuất cũng tạo tâm lý lạc quan cho thị trường cao su.
Quan điểm này của ông hoàn toàn khác so với cách đây vài tuần. Cuối tháng 8/2020, ông Luckchai dự báo xuất khẩu cao su Thái Lan năm 2020 sẽ giảm 10% so với năm ngoái, chỉ đạt 170 tỷ baht, do cuộc khủng hoảng Covid-19 khiến nhiều nhà máy sản xuất ô tô, nhất là ở Mỹ và châu Âu, phải đóng cửa hoặc sản xuất chậm lại, kéo theo nhu cầu lốp xe giảm sút.
Trước đây, sản xuất cao su của Thái Lan tập trung chủ yếu vào cao su tấm, được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất lốp xe. Việc nhu cầu găng tay cao su gần đây tăng do Covid-19 đã thúc đẩy các nhà sản xuất cao su nước này chuyển sang sản xuất latex cao su – nguyên liệu sản xuất găng tay sao su.
Theo ông Luckchai, tỷ lệ latex trong tổng sản lượng cao su của Thái Lan năm nay dự báo sẽ tăng lên 30%, so với 20% của năm 2019. Thái Lan là nước sản xuất cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới, với sản lượng năm 2019 đạt 4,8 triệu tấn, trong đó gần 4 triệu tấn xuất khẩu. Thái Lan đứng thứ 4 thế giới về xuất khẩu các sản phẩm cao su và cao su chế biến, chỉ sau Trung Quốc, Đức và Mỹ.
Tổng kim ngạch xuất khẩu cao su Thái Lan trong năm qua đạt 11,2 tỷ USD, tăng 2%; những thị trường chủ chốt bao gồm Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, ASEAN và Australia; lốp ô tô chiếm 51% trong tổng xuất khẩu, tiếp đến là cao su tổng hợp và găng tay cao su – chiếm lần lượt 19% và 11%. Sản xuất găng tay cao su của Thái Lan năm 2019 đạt hơn 20 tỷ đôi, trong đó 89% được xuất khẩu, thu về 1,2 tỷ USD. Thái Lan là nước xuất khẩu găng tay cao su lớn thứ 3 thế giới, sau Malaysia và Trung Quốc.
Bộ Thương mại nước này cho biết, nhu cầu găng tay cao su dùng để bảo hộ trên toàn cầu vẫn không ngừng tăng nhanh do Covid-19, giúp xuất khẩu găng tay cao su của Thái Lan 7 tháng đầu năm nay tăng 38,5% so với cùng kỳ năm ngoái, lên 959 triệu USD. Các thị trường tiêu thụ găng tay chính từ đầu năm đến nay là Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Anh.
Trong khi đó, nguồn cung cao su Thái Lan năm nay dự báo giảm. Theo ông Luckchai, sản lượng cao su tự nhiên của Thái Lan năm 2020 ước tính ở mức 4,5 triệu tấn, trong đó 3,8-3,9 triệu tấn dành cho xuất khẩu. Sản lượng giảm chủ yếu do thời tiết và thiếu lao động (nhân lực lao động ngành cao su Thái Lan chủ yếu đến từ Myanmar và Campuchia). Giá cao su giảm cũng là một trong những lý do khiến sản lượng năm nay giảm sút, vì giá thấp khiến người trồng cao su không nhiệt tình trồng, chăm sóc cây và khai thác mủ.
Đối với Việt Nam, trong tháng 8/2020, giá mủ cao su nguyên liệu trên thị trường trong nước và khối lượng cũng như trị giá xuất khẩu cao su đều tăng. Xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 8/2020 ước tính đạt 220 nghìn tấn, trị giá 267 triệu USD, tăng 8,5% về lượng và tăng 8,9% về trị giá so với tháng 7/2020. So với tháng 8/2019, xuất khẩu trong tháng 8/2020 tăng 21,5% về lượng và tăng 9,3% về trị giá, giá xuất khẩu bình quân giảm 10% so với cùng kỳ năm 2019 xuống còn 1.214 USD/tấn.
Hiệp hội các nước sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC) – tổ chức gồm 13 quốc gia sản xuất cao su quan trọng – trong báo cáo tháng 9/2020 cho biết, nhu cầu cao su toàn cầu có khả năng hồi phục trong quý III/2020 sau khi giảm sâu ở quý trước đó.
Cụ thể, ANRPC dự báo nhu cầu cao thế giới quý III/2020 chỉ còn giảm 2,9%, sau khi giảm 14% trong 7 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm 2019 (giảm 15% trong quý I/2020 do Trung Quốc, và giảm 15,8% trong quý II do nhu cầu của các nước khác ngoài Trung Quốc cũng giảm sút).
Cơ sở để ANRPC lạc quan về triển vọng nhu cầu trong quý III/2020 là nền kinh tế Mỹ hồi phục nhanh, sản xuất của Trung Quốc tiếp tục hồi phục, và tiêu thụ ô tô ở cả Trung Quốc và Ấn Độ đều phục hồi.
Theo ANRPC, ước tính sơ bộ cho thấy Trung Quốc đã tiêu thụ 456.000 tấn cao su thiên nhiên trong tháng 7/2020, gần tương đương mức 464.000 tấn tiêu thụ trong cùng tháng năm trước. Triển vọng tiêu thụ cao su trên toàn thế giới trong cả năm 2020 đã bị điều chỉnh giảm do tiêu thụ chậm trong giai đoạn từ tháng 4 đến tháng 6/2020 ở Mỹ và EU.
“Diễn biến thị trường trong ngắn hạn và trung hạn phụ thuộc nhiều vào sự phục hồi kinh tế toàn cầu và sự hồi sinh của ngành công nghiệp ô tô và vận tải”, RB Premadasa, tổng thư ký của ANRPC, cho biết. Thị trường cao su sẽ chịu tác động lớn từ việc vắc-xin chống Covid-19 khi nào sẽ có, và hiệu quả sẽ như thế nào.
ANRPC ước tính sản lượng cao su thiên nhiên toàn cầu trong 7 tháng đầu năm 2020 giảm 8,9% so với cùng kỳ năm ngoái, xuống 6,721 triệu tấn.
Ngọc Diệp
Theo Trí thức trẻ
Một số chuyên gia cho rằng nhu cầu sản phẩm công nghiệp sẽ phục hồi vào cuối năm 2022 và nhu cầu sẽ tăng từ từ cho đến khi nền kinh tế phục hồi hoàn toàn và trở lại hoạt động bình thường.
Theo Nikkei Asian Review, giám đốc của công ty kinh doanh hàng hoá Olam International cho hay nhu cầu tiêu thụ toàn cầu giảm, nguồn cung tạm ngừng và logistic trì trệ khiến ngành công nghiệp bông và cao su không thể mong đợi sự phục hồi hoàn toàn từ cuộc khủng hoảng COVID-19 cho đến cuối năm 2022.
Công ty Olam có trụ sở tại Singapore chủ yếu xử lí các sản phẩm nông nghiệp như ca cao, cà phê, gia vị và dầu ăn, cũng như các nguyên liệu sản xuất như bông và cao su.
Chuỗi cung ứng của công ty này trải dài hơn 60 quốc gia, từ châu Á đến châu Âu và châu Phi.
Trong một cuộc phỏng vấn với Nikkei Asian Review, Sunny Verghese, người đồng sáng lập và Giám đốc điều hành tập đoàn Olam cho biết đại dịch này là “cuộc khủng hoảng quan lớn mà chúng tôi phải đối mặt” do nó đã tác động tiêu cực tới nhu cầu, nguồn cung và mạng lưới hậu cần một cách triệt để.
Ông Verghese cũng lưu ý rằng vẫn còn rất nhiều “sự không chắc chắn” liên quan đến một làn sóng khủng hoảng khác với mức độ lớn nhiều.
Ông Verghese cũng cho rằng sự phục hồi kinh tế toàn cầu sẽ không theo mô hình phục hồi hình chữ V.

“Tôi cho rằng sự phục hồi sẽ mang tính chắp vá, không chắc chắn, không đồng đều và kéo dài hơn. Vì vậy, quan điểm của tôi là sẽ mất ít nhất đến cuối năm 2022, đầu năm 2023 để quay trở lại mức tăng trưởng GDP như chúng ta đã có vào năm 2019.”
Ông Verghese dự báo rằng nhu cầu sản phẩm công nghiệp sẽ phục hồi vào cuối năm 2022 và cho rằng “nhu cầu sẽ tăng từ từ cho đến khi nền kinh tế phục hồi hoàn toàn và trở lại hoạt động bình thường.”
Trong khi đó, Verghese cho biết nhu cầu đối với các sản phẩm thực phẩm như ca cao bắt đầu tăng vào tháng 6 và tháng 7, và nó đang trở lại “mức trước đại dịch”.
Lệnh phong toả và các biện pháp hạn chế khác được sử dụng để ngăn chặn hoặc làm chậm sự lây lan của virus COVID-19 đã làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng Verghese nhấn mạnh rằng thời kì tồi tệ nhất dường như đã qua.
Khi các quốc gia bắt đầu dỡ bỏ lệnh phong toả, “điều tồi tệ nhất của sự gián đoạn chuỗi cung ứng đang tiềm ẩn sau chúng ta”, ông cho biết.
Ngoài một số quốc gia, đặc biệt là Ấn Độ và Brazil, vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức thì “60 quốc gia còn lại mà chúng tôi đang có chi nhánh ở đó ,” mọi thứ đang bắt đầu được hồi phục và cải thiện.
Khi chuỗi cung ứng phục hồi, một mối quan tâm đối với các công ty toàn cầu là căng thẳng leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc.
Hai nền kinh tế hàng đầu thế giới đang trong một cuộc chiến thương mại, trong đó các công ty công nghệ Trung Quốc ngày càng trở thành mục tiêu của các lệnh trừng phạt của Mỹ và Trung Quốc đã và đang đưa ra những động thái trả đũa.
Verghese nhấn mạnh rằng công ty của ông sẽ giữ thái độ trung lập đối với các cường quốc. “Chúng tôi không thể chọn bên. Chúng tôi chắc chắn sẽ giữ thái độ trung lập.”
Về mặt dài hạn, Verghese cho hay Mỹ không thể làm gì nếu không có Trung Quốc và ngược lại. “Hiện tại, đây là một cuộc khủng hoảng thực sự và sẽ là một cuộc đấu tranh kéo dài, nhưng tôi nghĩ họ sẽ tìm thấy một điểm cân bằng mới bởi vì không ai sẽ thắng trong cuộc chiến này.”
Quỹ đầu tư nhà nước Temasek Holdings của Singapore và tập đoàn kinh doanh Mitsubishi Corp của Nhật Bản lần lượt sở hữu 54% và 17% cổ phần của công ty Olam.
Giá trị vốn hóa thị trường hiện tại của công ty là 3,2 tỉ USD.
Lợi nhuận của Olam trong nửa đầu năm 2020 đã tăng 44% so với một năm trước lên 244 triệu USD nhờ lợi nhuận thu được từ việc thoái vốn.
Trong khi đó lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh giảm 19%.
H.Mĩ
Theo Kinh tế & Tiêu dùng
Việt Nam là đối tác xuất khẩu cao su tự nhiên lớn thứ ba vào Đài Loan trong năm 2019, chỉ sau Indonesia và Thái Lan
Ảnh minh họa. (Nguồn: vneconomy)
Theo thống kê của Cơ quan quản lí ngoại thương Đài Loan (BOFT), năm 2019 Đài Loan đã nhập khẩu 105,4 tấn cao su tự nhiên (Mã HS: 4001, mô tả theo tiếng Anh của biểu thuế Đài Loan: Natural rubber, balata, gutta-percha, guayule, chicle and similar natural gums, in primary forms or in plates, sheets or strip) từ hơn 10 đối tác trên thế giới với tổng kim ngạch nhập khẩu đạt 161,5 triệu USD, tăng trên 1% về lượng song giảm nhẹ 0,005% về kim ngạch.
(Nguồn: BOFT)
Các nước ASEAN hiện là đối tác xuất khẩu chính nhóm hàng này vào Đài Loan. Trong đó Indonesia là đối tác xuất khẩu mặt hàng này lớn nhất với 35,2 tấn, kim ngạch đạt 54,6 triệu USD; giảm 12,6% về lượng và giảm 5,6% về giá trị; chiếm hơn 1/3 tổng lượng nhập khẩu của Đài Loan trong năm 2019.
Thái Lan tiếp tục là đối tác lớn thứ hai với trọng lượng đạt 34,26 tấn kim ngạch đạt 52 triệu USD và cũng chiếm khoảng 1/3 tổng lượng nhập nhóm hàng này.
Cũng theo thống kê này của BOFT, Việt Nam là đối tác xuất khẩu mặt hàng này lớn thứ ba vào Đài Loan trong năm qua với 22,8 tấn, kim ngạch 35,06 triệu USD, tăng 8,4% về lượng và tăng 7,5% về kim ngạch.
Ngoài ra, năm 2019, Đài Loan còn ghi nhận nhập khẩu mặt hàng này từ một số đối tác khác như Malaysia, Campuchia, Trung Quốc, Mỹ…
Được biết, hiện mặt hàng cao su tự nhiên xuất khẩu vào Đài Loan theo cam kết WTO hiện có thuế suất 0% và về cơ bản không gặp rào cản gì do nhóm sản phẩm này không cạnh tranh với sản phẩm nội địa.
Phùng Nguyệt
